|
|
Trả lời
:
Trước hết, có thể nói : chỉ riêng ở Việt Nam từ xưa đến nay mới có
tục lệ gọi cha mẹ của các linh mục và tu sĩ là các “ông
bà cố” mà thôi. Nghĩa là ở các quốc gia Tây phương ( ngay cả ở Á
Châu như Đại Hàn, Philippines, Trung hoa..) và nhất là ở Mỹ, th́ tuyệt đối
không có tục lệ này. Nên dù là cha mẹ của các linh mục, giám mục hay Hồng Y
th́ giáo dân Âu Mỹ đều không dùng danh xưng nào tương đương với danh xưng “
ông bà cố” để gọi họ .
Cụ thể, ở các giáo xứ Mỹ, dù có cha mẹ cha xứ hay cha mẹ Giám mục giáo phận
cư ngụ và sinh hoạt trong giáo xứ, th́ người giáo dân Mỹ cũng chỉ coi họ như
mọi giáo dân khác mà thôi, chứ không hề có tước hiệu nào tương đương như “
ông bà cố, bác cố , chú cố. anh chị cố” để gọi các ông bà này như giáo dân
Viêt Nam trong và ngoài nước. . Lại nữa, giáo dân Mỹ cũng không hề coi cha
mẹ của linh mục, giám mục hay Hồng Y như những người thuộc giai cấp riêng
phải kính trọng như ở các giáo xứ Viêt Nam. Thí dụ, trong các buổi hội họp
hay lễ hội quan trong nào trong giáo xứ, th́ người Mỹ, Mễ .. không hề cung
kính thưa:
Cha xứ, cha phó, thưa quí ông bà cố, rồi mới thưa các vị trong Hội Đồng mục
vụ tài chính, và các đoàn thể Công giáo tiến hành …như thực hành ở các Giáo
xứ và Cộng đoàn Viêt Nam ở Mỹ . Nói thế, không phải là giáo dân Mỹ không
kính trọng các “ ông bà cố” như giáo dân Việt Nam. Họ kính trọng nhưng chỉ
dùng danh xưng chung là Parents, Father hay Mother của cha xứ hay của Giám
mục giáo phận mà thôi. .Truyền thống gọi cha mẹ của linh mục, tu sĩ là “ông
bà Cố”
đă có từ lâu đời ở Việt Nam, nên đă phát sinh “tệ tục” là có những người
thích được làm “ông bà , chú bác, anh chị Cố” , và coi đây như một vinh dự
thiêng liêng, hay một ơn gọi được lănh nhận chung với con cái của ḿnh được
làm linh mục, giám mục hay tu sĩ.
Chính v́ năo trạng sai lầm này mà xưa kia có những cha mẹ đă quá mong muốn
cho con ḿnh đi tu làm linh mục để ḿnh được làm “ông bà cố” Và có những
linh mục mà thâm tâm họ không muốn làm linh mục, nhưng v́ sợ cha mẹ buồn, và
thất vọng , nên phải ráng cố gắng “qua cầu” để cho cha mẹ vui sướng
và hănh diện v́ được làm ông bà cố !. (Tôi có quen một linh mục đă hồi
tục và ông đă xác nhận điều này. )
Cũng v́ ham làm “ông bà cố” như vậy, nên nếu con ḿnh đi tu mà không được
chọn, khiến phải trở về th́ cha mẹ lấy làm buồn tủi và xấu hổ với bà con
thân thuộc v́ phải mang tiếng “ông bà cố
hụt”.
Đây là sự thật không thể phủ nhận được trong tâm thức của rất nhiều người
công giáo Việt Nam đă lớn tuổi. Hy vọng thế hệ trẻ ngày nay sẽ thay đổi
được năo trạng này để chúng ta có cái nh́n đúng hơn về vai tṛ của cha mẹ có
con làm linh mục, tu sĩ hay giám mục. Cũng nên biết rằng Giáo Hội không hề
dạy phải kinh trọng cha mẹ của linh mục như một đặc ân riêng nào cả, mà chỉ
dạy yêu kinh cha mẹ nói chung như điều răn thứ 4 của Chúa dạy “ phải thảo
kinh cha mẹ,”mà thôi.
Chính v́ nhiều người công giáo Việt Nam lớn tuổi c̣n thích làm “ông bà cố”
hay “anh chị cố”nên đă nảy sinh thực trạng nhận con nuôi, em nuôi, đă làm
linh mục hay đang c̣n học để trở thành linh mục để ḿnh được là “ông bà hay
anh chị cố”.Tôi biết rơ có những chủng sinh có ba ,bốn cha mẹ nuôi như vậy
ở nước ngoài để họ giúp đỡ tài chính đang khi c̣n học ở chủng viện. Tôi
cũng có một người làng đă bảo trợ ,giúp đỡ được 8 chủng sinh làm linh mục
và đang hănh diện với danh xưng “ chị
cố
“ ở bên này ( chị không có chồng, nhưng đi làm có tiền gửi về nuôi các em
thiêng liêng làm linh mục.)
Nói ra vấn đề trên tôi không có ư chỉ trích riêng ai mà chỉ muốn nhân đây
nói riêng về một số linh mục và chủng sinh đang có hoặc đang vận động để có
ân nhân giúp đỡ về tài chính để nhận lại danh hiệu “ ông bà cố, anh chị cố”
Điều này chỉ áp dụng cho người công giáo Việt Nam thôi, c̣n người Âu Mỹ có
bảo trợ ( sponsor) cho ai làm linh mục, th́ cũng chỉ biết ḿnh là Sponsor
của linh mục ấy, chứ không nhận được tước hiệu nào tương đương như danh
tước “ ông bà cố” của người Việt Nam.
Tại sao tôi phải nói riêng về việc này ?
Lư do là linh mục của Chúa th́ phải sống khó nghèo như Chúa Kitô “ Đấng
vốn giầu sang phú quư, nhưng đă tự ư ở nên khó nghèo v́ anh em, để lấy cái
nghèo của ḿnh mà làm cho anh em trở nên giầu có.” (
2Cr 8:9)
Chúa Kitô không những dạy khó nghèo mà chính bản thân Người đă thực sự sống
khó nghèo từ khi sinh ra trong hang lừa máng có, giá lạnh giữa mùa đông..lớn
lên sống lang thang như người vô gia cư, đúng như lời Chúa đă nói với một
kinh sư kia:
“ Con
chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người ( tức Chúa Giê su-Kitô)
Không có chỗ tựa đầu !,” ( Mt 8: 20)
Đặc biệt, Chúa đă chết trần trụi trên thập giá và không có chỗ mai táng,
khiến môn đệ phải mượn ngôi mộ trống của ông Giô-xép để cho Chúa nằm tạm
trong ba ngày chờ sống lại. ( Mt 27: 59-60)
Như vậy , là tông đồ của Chúa trong Giáo Hội ngày nay, mọi đấng bậc như
Hồng Y, Giám mục và linh mục đều được mong đợi thực hành và sống tinh
thần khó nghèo của Chúa để không ai chạy theo tiền của, làm thân với người
giầu có, người quyền thế, danh vọng để mưu lợi ích cho cá nhân ḿnh, bỏ
quên gương khó nghèo của Chúa Kitô.
Nếu ḿnh dạy cho giáo dân gương khó nghèo của Chúa mà chính ḿnh lại sống
phản chứng bằng đời sống sa hoa, chạy theo tiền của th́ ai
c̣n tin và thực hành lời ḿnh giảng dạy nữa ???
Đó là ư do v́ sao Đức Thánh Cha Phanxicô đă lưu ư mọi thành phần dân Chúa
trong Giáo Hội về nguy cơ “tôn
thờ tiền bạc=cult of money”
đang ngự trị trong tâm hồn của biết bao người trên thế giới tục hóa ngày
nay.
V́ thế, là các Tông đồ lớn nhỏ của Chúa, mọi người đều được mong đợi sống
khó nghèo theo gương Chúa Kitô, Đấng đă khó nghèo từ khi sinh ra cho đến
khi chết trần trụi trên thập giá năm xưa.
Nhưng thực tế ra sao ?
Trước hết là các linh mục VN ở ngoại quốc- đặc biệt là ở Mỹ- đều có lương
của giáo xứ và bổng lễ (mass stipends) nên không ai khó nghèo cả. Đặc biệt
là những linh mục coi các xứ VN ở Mỹ, th́ rất
khó
mà
nghèo
được , khó mà nói đến sống khó nghèo , v́ tất cả đều có đời sống bảo đảm
tối thiểu về mọi nhu cầu vật chất cần thiết, trừ những người ham tiền,
thích đi xe Lexus, Volvo, ..đeo đồng hồ Rolex. Omega . v.v và chỉ nhận các
bổng lễ cao chứ không nhận lễ có 5 dollars hoặc không có bổng lễ.
Ngược lại ở Việt Nam, các linh mục không được trả lương nhưng làm việc ở
những xứ có ít, nhiều nguồn lợi, th́ linh mục cũng ít nhiều là người giầu
có., chứ không ai khó nghèo đến mức phải đi xin ân nhân nước ngoài giúp đỡ
về mặt tài chính cả. Có xin hay vận động để ra nước ngoài xin tiền, th́
phần lớn là để cho vào túi ḿnh chứ không hoàn toàn v́ nhu cầu chính đáng
phải đi xin. Ai có tật th́ giật ḿnh.
Chính v́ chỉ ở VN, linh mục mới không có lương như ở các quốc gia trên
thế giới cho nên nếu làm việc ở các giáo xứ giầu th́ linh mục giầu, làm ở
xứ nghèo th́ linh mục không có tiền rủng rỉnh như những người làm ở các xứ
giầu. V́ thế ai cũng muốn bon chen để về coi các xứ giầu, béo bở chứ không
mấy ai chịu đi coi các xứ nghèo ở thôn quê xa xôi. Thực tế đúng như vậy.
Đây là một tệ trạng rất phi lư, bất công mà các Giám mục bên nhà cần thay
đổi để trả lương đồng đều cho các linh mục giúp xứ, và thuyên chuyển định
kỳ các linh mục coi sóc các xứ có nhều nguồn lợi. Như thế sẽ tránh bất
công cho các linh mục phải coi và ở măi các xứ nghèo, xa xôi miền quê.
Cũng v́ phải sống tinh thần khó nghèo này, mà các chủng sinh đang c̣n học
để chịu chức linh mục sau này, cần được giáo dục, đào luyện đến nơi đến chốn
về kiến thức thần học, Kinh Thánh, mục vụ ..cách riêng về sự cần thiết
phải noi gương Thầy chỉ thánh của ḿnh về đức khó nghèo, để khinh chê của
cải vật chất chóng qua ở đời này. Do đó, phải
ngăn cấm
họ vận động t́m ân nhân
ở nước ngoài xin giúp đỡ về tài chính để sống sa hoa ngay từ bây giờ, th́
sau này khi ra làm linh mục, làm sao thực hành được tinh thần và gương khó
nghèo của Chúa Kitô ?
Vả lại, chủng sinh có cần tiền để trả cho chủng viện trong thời gian học tập
hay không ? Nếu không, th́ chủng sinh t́m ân nhân nước ngoài làm ǵ nữa ?
Đây cũng là gương xấu và bất công khi có chủng sinh t́m được 2, hay 3 ân
nhân trong khi nhiều chủng sinh khác không t́m được ai bảo trợ !
Một điều quan trọng nữa phải nói là linh mục tương lai th́ cần thiết phải
xa tránh lối sống của những bậc đàn anh, đàn cha ,bác..mà rất nhiều là
những người chỉ giảng cho người ta sống, nhưng chính bản thân ḿnh lại
sống phản chứng với lời ḿnh rao giảng, dạy dỗ, khiến không thuyết phục được
ai tin lời ḿnh dạy dỗ nữa.
Và đó là lư do thất bại của sứ vụ linh mục ( priestly ministries) nói chung
– và cách riêng- sứ vụ phúc âm hóa môi trường ở bất cứ địa phương nào
trong và ngoài nước.
Tóm lại, là linh mục của Chúa Kitô th́ phải sống nhân chứng cho Chúa về tinh
thần và đời sống khó nghèo thực sự để không chạy theo tiền của và mọi sa
hoa phóng túng của người đời. Nếu không th́ sẽ tự mâu thuẫn và thất bại
trong sứ vụ của ḿnh.
Chúa nói: “
Ai có tai nghe ,th́ nghe.” ( Mt 13: 43, Mc 4:23; Lc 8:8)
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn